Văn hóa thường nhật

Nguồn gốc nghi lễ, chức năng, ý nghĩa của lễ cúng cô hồn

Đăng ngày: 18/11/2014 - Lượt xem 1726

Một số lớn Phật tử và người dân thường ở miền Bắc tin rằng Đức Ông có thần lực và oai đức bảo vệ các trẻ em, nhất là các em bé khó nuôi, khỏi bệnh nạn, được bình an, và tránh khỏi các điều bất trắc. Các bậc phụ huynh khi đến chùa thường hay lễ bái Đức Ông, và thành tâm cúng dường, không chỉ có hương hoa, trái cây, mà đôi lúc còn có cả rượu bia và thức ăn mặn. Các người tín tâm, các thiện nam tín nữ tin vào sự linh thiêng mầu nhiệm, và lòng thương vô hạn của trưởng giả Cấp Cô Độc đối với trẻ thơ. Các nam nữ thiện tín cho rằng Đức Ông bảo vệ trẻ em tránh được các hoạn nạn, bệnh tật và các thần lực xấu vô hình vô ảnh. Các Phật tử và người tín tâm quan niệm rằng Đức Ông là một vị thiên thần, ngài không phải là Phật, là Bồ-tát, mà là đệ tử cư sĩ của Phật. Khi còn tại thế, Trưởng giả Cấp Cô Độc là một người giàu sang quyền thế, có vợ có con, có sự nghiệp và tài sản lớn nhất nước Ấn Độ xưa, chỉ thua vua mà thôi. Là một cư sĩ tại gia, do vậy họ quan niệm rằng Đức Ông hiểu và thông cảm các vấn đề khổ đau, sư lo lắng, quan tâm của các bậc cha mẹ trong đời thường hơn là các bậc giác ngộ giải thoát. Thiên chức của Đức Ông trong truyền thống Phật giáo miền Bắc có phần tương tự với vai trò bảo vệ trẻ thơ của Bồ-tát Địa Tạng (Jizo) trong truyền thống Phật giáo Nhật Bản. Do vậy, các bậc cha mẹ có con khó nuôi, hoặc muốn được sự che chở và bảo vệ cho mạng sống, họ thường thường đem con đến chùa bán khoán cho Đức Ông.

Nghi cúng thí thực cô hồn là một nghi lễ cầu nguyện siêu độ cho người chết do các vị xuất gia phụ trách tụng niệm ở các chùa chiền tự viện. Nghi lễ bán khoán trẻ thơ cho Đức Ông thường thường được làm lễ trước bàn thờ của ngài Cấp Cô Độc. Xét các tập khoa cúng và nghi thức tụng niệm của thiền môn, chúng ta chưa tìm thấy những thông tin gì về nghi thức bán khoán trẻ thơ cho Đức Ông Cấp Cô Độc được đề cập trong Đại tạng. Nhìn vào một vài tập nghi lễ mới được biên soạn và sưu tập gần đây, ta thấy nghi bán khoán trẻ em cho Đức Ông là một sáng tạo của tín ngưỡng Phật giáo Việt Nam. Buổi lễ bán khoán trẻ em cho Đức Ông gồm các lễ dâng hương, đảnh lễ Tam bảo, tụng Đại Bi Chú, niệm hồng danh chư Phật, các vị Bồ-tát, cùng Hiền Thánh tăng và tụng Thần chú tiêu tai diệt tội, Thần chú Chuẩn Đề, và làm lễ quy y Tam bảo cho đứa trẻ. Nhìn chung, đây là một nghi thức thông thường có thể uyển chuyển áp dụng cho nhiều nghi cúng khác.

Có ba văn kiện quan trọng đọc trong buổi lễ bán khoán. Các văn kiện này gồm hai sớ văn đọc trước bàn thờ Đức Ông và mộ bản “khoán ước” được hai bên ký kết: một bên là cha mẹ, một bên là thầy trụ trì. Cha mẹ đại diện cho đứa con thơ của mình, con thầy trụ trì là “đại diện” của Đức Ông. Trong buổi lễ bán khoán, cha mẹ của đứa bé dâng lễ vật hương hoa trà quả lên bàn Đức Ông. Thầy trụ trì đích thân đứng ra chủ lễ. Nghi thức tôn giáo gồm có lễ dâng hương, tụng chú Đại Bi, niệm danh hiệu của Trưởng giả Cấp Cô Độc, Phật Thích Ca và các vị Bồ-tát; sau đó, thầy trụ trì dâng sớ. Trong sớ văn, có ghi tên họ đứa bé, ngày tháng năm sinh, tên họ và địa chỉ của cha mẹ, và lý do chính đáng trong việc bán khoán con thơ cho Đức Ông. Sớ văn cũng nhấn mạnh rằng sau lễ bán khoán đứa bé sẽ trở thành đứa con tinh thần của Đức Ông và ngài có nhiệm vụ bảo hộ cháu được khỏe mạnh khôn lớn. Đọc xong sớ văn trước bàn thờ Đức Ông, thầy trụ trì hỏa thiêu bản sớ, và làm lễ quy y và đặt pháp danh cho cháu bé. Sau lễ quy y, đứa bé chính thức là đứa con tinh thần của Đức Ông. Các bậc phụ huynh tin rằng từ khi bán khoán xong đứa bé sẽ được Đức Ông hỗ trợ tinh thần, và long thần hộ pháp trong chùa cũng bảo bọc cho cháu nên người. Sau khi làm lễ hồi hướng, thầy trụ trì dâng một sớ khác lên Đức Ông và hóa hỏa sau khi đọc xong. Sau buổi lễ, gia đình em bé tiếp nhận chứng khoán bán con cho Đức Ông. Tờ chứng khoán này ghi rõ tên họ và ngày tháng năm sinh của cháu bé, pháp danh, tên họ và địa chỉ của cha mẹ, và lý do bán khoán cháu bé cho Đức Ông. Bản khoán phải do cha mẹ và thầy đồng ký tên. Văn kiện này sẽ được lưu giữ ở chùa. Từ nay về sau vào rằm và mồng một (ngày sóc vọng), và các dịp lễ lớn như Tết, Phật đản và Vu Lan, cha mẹ của cháu bé phải có bổn phận đưa con đến chùa lễ Phật. Đặc biệt là vào dịp sinh nhật của cháu bé phải có bổn phận đưa con đến chùa lễ Phật. Đặc biệt là vào dịp sinh nhật của cháu bé, hoặc ngày lễ vía Đức Ông, cha mẹ phải sắm sửa một mâm lễ dâng lên Đức Ông Cấp Cô Độc. Sau một giáp (12 năm), cha mẹ của cháu bé sửa soạn một mâm lễ tươm tất đem lên chùa chuộc lại con. Nhiều trường hợp cha mẹ cháu bé có thể làm lễ chuộc con sớm hơn hoặc muộn hơn như quy định.

Kết luận

Khi nghiên cứu bộ tượng Thánh Tăng A-nan và Đức Ông Cấp Cô Độc trong truyền thống nghệ thuật Phật giáo Việt Nam, chúng ta thấy người Việt xưa đã khéo léo chuyển hóa hai vị đệ tử nổi tiếng của Phật để trở thành Thánh Tăng và Đức Ông trong truyền thống thờ tự ở chùa Việt ở miền Bắc. Thánh Tăng và Đức Ông đã từ từ đi vào văn hóa Phật giáo người Việt và trở thành một phần của tín ngưỡng phổ biến trong nhân gian. Câu chuyện ngài A-nan gặp quỷ đói rồi với lòng từ bi vô lượng đã xin Đức Phật phương tiện cứu giúp cho loài ngạ quỷ được no đủ và độ chúng thoát cảnh địa ngục đã được các vị tổ sư Mật tông chuyển thành nghi thức cúng thí cô hồn. Các vị Tăng Việt Nam đã tiến một bước nữa bằng cách áp dụng nghi thức tiểu thí thực cô hồn vào các khóa lễ buổi chiều để cầu nguyện cho các oan hồn uổng tử, các chiến sĩ trận vong, cùng đồng bào tử nạn và những cô hồn bị chết oan không đi đầu thai, mà phải bị làm cô hồn lảng vảng không nơi nương tựa, không người cúng kính. Nghi thức đại chẩn tế cô hồn, còn gọi là Thủy lục không Du-già nghi, chỉ được các chùa lớn tổ chức mỗi năm một lần vào dịp Lễ Vu Lan, hoặc một năm vài lần khi có tín chủ bỏ tiền bạc ra lập đàn chẩn tế siêu độ người chết. Với nghi thức cúng thí thực cô hồn vào mỗi chiều, chùa chiền và tự viện ở Việt Nam đã âm thầm cầu nguyện cho những oan hồn uổng tử, cầu cho âm siêu dương thái, để cho kẻ chết được siêu sinh và người sống được bình yên. Trong truyền thống cổ truyền, Đức Ông Cấp Cô Độc là vị thần Già Lam bảo hộ chùa chiền, nhưng người Phật tử Việt lại tôn thờ ngài thêm một chức năng mới đó là bảo vệ các trẻ em được khỏe mạnh an vui, mau ăn chóng lớn, và tránh được các bệnh tật, giúp cho trẻ thơ tránh những tai nạn nguy hiểm. Trong các buổi lễ dù là thí thực cô hồn, đại trai đàn chẩn tế, hoặc bán khoán con thơ, các vị Tăng Ni giữ một vai trò quan trọng. Trong lễ bán khoán, các vị Tăng Ni đã thay thế các vị gia chủ, các vị tín tâm làm lễ cho con cái của họ. Qua lễ thí thực mỗi ngày, bán khoán cũng như các lễ nghi khác khi các chùa cầu nguyện cho đồng bào Phật tử và những thí chủ, sự hỗ trợ tinh thần này đã tạo nên sự hỗ tương gắn bó giữa chùa chiền và Phật tử và các cộng đồng làng nước.

Hình ảnh Thánh Tăng A-nan và Đức Ông Cấp Cô Độc đồng thời phản ánh các sức sống văn hóa và tâm linh của thời đại, bao gồm sự bình an của trẻ thơ. Thánh Tăng và Đức Ông được thờ ở các chùa ở miền Bắc mà lại thiếu vắng trong các chùa ở miền Trung và miền Nam phản ánh sự phát triển của Phật giáo khác biệt giữa hai miền Bắc và Nam. Điều này cho ta thấy trong thời gian Trịnh Nguyễn phân tranh khi đất nước chia làm hai miền. Ở đàng Ngoài, các chùa Trịnh đã bỏ ra nhiều tiền của xây dựng và trùng tu các chùa chiền và nới rộng thêm kiến trúc. Ở Đàng Trong, các chùa Nguyễn mở đường Nam tiến khẩn đất khai hoang để mở rộng đất nước về phương Nam.

Các pho tượng Thánh Tăng và Đức Ông được khảo cứu và mô tả trong bài này không hẳn là các tác phẩm nghệ thuật tôn giáo, mà là những hình tượng có công năng truyền tải giá trị văn hóa, tín ngưỡng và lịch sử xã hội Việt Nam thời đương đại. Tượng Thánh Tăng và Đức Ông ở trên một phương diện khác phản ảnh lịch sự phát triển và mở rộng của hệ thống kiến trúc chùa chiền ở miền Bắc và vị trí quan trọng của hai vị này trong môi trường tâm linh mới. Hơn nữa, tượng Thánh Tăng A-nan và Đức Ông Cấp Cô Độc biểu lộ mục đích cao cả của nghi lễ tôn giáo như là một hình thái và sinh hoạt tâm linh giữa Tăng Ni và Phật tử, giữa chùa chiền  với làng nước, giữa người sống và cõi chết, giữa cõi âm và cõi dương. Tượng Thánh Tăng và Đức Ông đồng thời làm nổi bật mục đích và ý nghĩa tiêu biểu của truyền thống nghi lễ Phật giáo Việt Nam được thực hiện qua hình thái tạo hình. Tượng Thánh Tăng và Đức Ông có giá trị cao trong việc giúp chúng ta hiểu sâu rộng thêm bối cảnh lịch sử và văn hóa đã có những tác động trong việc ra đời hai hình tượng tôn giáo có ý nghĩa sâu sắc như vậy. Đồng thời cũng làm sáng tỏ thêm về hình ảnh và tác dụng sâu sắc về nghi lễ tôn giáo đối với đời sống của nhân dân.

Ghi chú:tuong-thanh-tang-A-nan

1. Trong gần 20 năm nay, có từ hàng trăm đến hàng ngàn pho tượng quý, các pháp khí, và đồ thờ bằng đồng hoặc bằng gốm ở các chùa đã bị mất cắp và thuyên chuyển lậu ra nước ngoài. Đây là một vấn đề nghiêm   trọng xảy ra khắp ở các chùa ở miền Bắc. Các chùa lớn nhỏ có tượng quý đều bị đánh cắp, và tình trạng này đã xảy ra liên tục. Thí dụ, năm 1993, pho tượng Đức Quan Thế Âm nghìn mắt nghìn tay và pho Quan Âm Nam Hải ở chùa Tây phương bị đánh cắp. Cùng năm, một số pho tượng Phật ở chùa Mía cũng bị mất trộm. Năm 2003, một số pho tượng Phật và Bồ-tát ở chùa Vĩnh Nghiêm, làng Đức La, tỉnh Bắc Giang đã bị mất trộm. Khi đi khảo cứu điền dã nhiều chùa thuộc đồng bằng Bắc Bộ, tôi nhận thấy rằng hầu như các chùa có tượng cổ đều bị mất cắp. Đây là một thực tại khó khăn mà các chùa Miền Bắc đã và đang gặp phải. Tại nhiều chùa, các thầy trụ trì đã cho thợ sơn lại các tượng cổ để làm mất giá trị của tượng để tránh bị mất trộm. Một số thợ bây giờ hoặc là tay nghề kém, hoặc làm rất dối, nên lúc sơn phết lại đã làm mất hết các hoa văn cũ trên các pho tượng cổ. Khi còn chiến tranh thì tượng quý còn ở chùa, nay hòa bình mà di sản văn hóa của quốc gia lại bị mất mát. Thật đáng tiếc!

2. Khi đi khảo cứu điền dã, tôi đã dập một số bia văn để tham khảo thêm tư liệu về niên đại xây dựng, trùng tu cũng như tóm tắt lịch sử của chùa được khắc trên bia đá. Ngoài ra, tôi cũng đã tham khảo thêm các văn bia của các chùa có liên quan đến bài nghiên cứu được lưu trữ tại thư viện Viện Hán-Nôm. Qua tư liệu văn bia, chúng ta có thể biết một cách tổng quát lịch sử của chùa.

3. Tu viện Kỳ Hoàn tọa lạc tại làng Sravsiti, còn gọi là làng Saheth Maaheth, cách thành phố Balrumpur 17 km, và cách thủ phủ Lucknow thuộc bang Uttar Pradesh 160 km. Tu viện đã bị phá hủy sau thế kỷ XI, nhưng di tích vẫn còn cho đến ngày nay. Nền tòa nhà Chiên Đàn nơi Phật thường lưu trú và cây bồ đề do ngài A-nan đem một nhánh bồ đề từ Bồ Đề đạo Tràng, nơi Đức Phật ngồi thiền định 49 ngày trước khi thành đạo, trồng tại tu viện hiện vẫn còn.

4. Cuộc đời, sự nghiệp và công đức ủng hộ Phật và Tăng đoàn nguyên thủy Phật giáo của Trưởng giả Cấp Cô Độc đã được viết rất nhiều. Thí dụ, Bhikkhu Nanamoli, The Life of the Buddha according to the Pali Canon. Buddhist Publication Society; 3rd ed., Kandy, Sri Lanka: 1992, trang 87-101. Thích Nhat Hanh, Old Path White Clouds, Parallax. Berkeley, 1991, trang 261-265. Nyanaponika Thera và Hellmuth Hecker, The Great Discliples of the Buddha, Wisdom Publication, Boston, 1997, trang 335-360. G. p. Malalasekara, Dictionary of Pali Proper Names. Munshiram Manooharlal Publishers, New Delhi, bản in năm 2002, tập 1, trang 76-72.

5. Đinh Khắc Thuần, Văn bia thời Mạc. NXB Khoa Học Xã Hội, Hà Nội, 1996, trang 339-340.

6. Chúa Nguyễn Hoàng dựng nghiệp tại Thuận Hóa từ năm 1558. Năm 1619, khi biết mình sắp qua đời, Nguyễn Hoàng đã chọn con trai thứ sáu là Nguyễn Phúc Nguyên lên nối ngôi và ông đã trở thành vị chúa Nguyễn đầu tiên ở đất Đàng Trong. Phúc Nguyên đã tuyên chiến với chúa Trịnh ở Đàng Ngoài.

7. Các chùa Việt xưa đều quay mặt về hướng Nam. Cổng tam quan và ba tòa nhà chính là tiền đường. Phật điện và hậu đường đều được xây trên một trục lộ thẳng theo hướng Nam Bắc. Đứng trên phương diện đồ hình kiến trúc cùa chùa mà xét thì bàn thờ Thánh Tăng A-nan luôn luôn tôn trí bên hướng Tây (tay trái), còn bàn thờ Đức Ông Cấp Cô Độc luôn luôn nằm ở hướng Đông (bên tay phải). Tuy vậy, nhiều chùa không xây hướng chính của chùa theo nguyên tắc này, nhưng tượng Thánh Tăng và Đức Ông bao giờ cũng đặt tại phía trái và phía phải nhà tiền đường.

8. Xin tham khảo thêm Hà Văn Tấn. Chùa Việt Nam. NXB. Khoa Học Xã Hội, Hà Nội: 1993, trang 123-25. Đinh Khắc Thuân. Văn bia thời Mạc, 1996.

9. Thông thường thì sau khi dâng lễ xong, các tín chủ đem các thức cúng như rượu thịt và thức ăn mặn về nhà. Các thức cúng này gọi là “lộc thánh”.

10. Ở Việt Nam, các vị Tăng chủ sám trong các buổi lễ quan trọng, hoặc các vị chủ lễ trong các đàn chẩn tế cô hồn thường đội mũ ngũ Phật. Mũ ngũ Phật có năm cánh, trên mỗi cánh đều có thêu mỗi vị Phật. Năm vị Phật đại diện giáo chủ cho năm phương, và thường được sắp xếp theo hệ thống Mật tông như thường thấy trong đồ hình mandala. Phương Đông Phật A-súc-bệ; phương Nam Phật Bảo Thắng; phương Tây Phật A-di-đà; phương Bắc Phật Tối Thắng Âm và ở trung ương Phật Tỳ-lô-xá-na.

11. Xin tham khảo thêm Chun-Fan Yu. Kuan-yin: The Chinese Transpormation of Avalokitesvara. Colombia University Press, New York.

12. Nguyễn Lang. Việt Nam Phật giáo sử luận. Paris, Lá Bối, 1978, tập 2, trang 97.

13. Xin dẫn ra đây vài thí dụ các bản in mộc bản về khoa cúng thí thực có minh họa ngài A-nan gặp quỷ Tiêu Diện. Một số bản in này hiện nay được sưu tập và tang trữ tại một số viện bảo tang mỹ thuật ở Tây phương có in hình này, thí dụ ở trong sách Buddhism: Art and Faith. British Museum Publications, London, 1985, catalog s#116, trang 88-89; hoặc Robert Weller.Unities and Divertities in Chinese Religion. University of Washington Press, Seattle, 1987, hình số 4.4 trang 120. Gia1o sư Wekker đã dùng một bản thời Thanh minh họa Bồ-tát Quán Thế Âm hóa thân làm quỷ Tiêu Diện cứu các loài quỷ đói.

14. Từ đời Đường (thế kỷ VII) trở về sau được các chùa thờ ngài Quan Công như vị thần già lam bảo vệ chùa chiền. Xin tham khảo thêm về lịch sử và quá trình ngài Quan Công được thánh hóa để trở thành một vị thần chiến tranh, và vị thần già lam. Cheng Mengchao. The Origin of Chinese Deties (Nguồn gốc các vị thần Trung Quốc). NXB Ngoại Văn. Bắc Kinh, 1995, trang 53-58.

15. Các khoa cúng thí thực cô hồn được dựa trên năm bản kinh Mật giáo. Trong Đại Tạng Đại Chính Tân Tu, các bản kinh này đánh số từ 3113, 3114, 1315, 1318, 1319 và 1320. Theo các học giả Phật học ở Tây phương, bản kinh đánh số1315, tựa Thí Chư Ngạ Qủy Ẩm Thực Cập Tịnh Thủy Pháp, là bài kinh quan trọng và đầy đủ nhất, Giáo sư Charles Orzech đã giới thiệu và dịch bản này ra tiếng Anh tựa là: “Saving the Burning Mouth Hunrgry Ghost” in trong tập Religions of China in Practice [Sự Hành Trì Tôn Giáo ở Trung Quốc] Princeton University Press, Princeton, 1996, trang 278 – 283. So với bản 1315, bản 1320 tựa Du Già Tập Yếu Diệm Khẩu Thí Thực Nghi, dài và đầy đủ nhất  gồm có các nghi thức cùng ấn chú, nhưng không đề cập đến câu chuyện ngài A – nan gặp quỷ đói.

16. Trong truyền thống Phật giáo Trung Quốc cũng như truyền thống Phật giáo Việt Nam, lễ hội Vu lan và lễ cúng cô hồn được tổ chức rất trang trọng vào mỗi năm vào rằm tháng Bảy sau ba tháng an cư kiết hạ của chư Tăng. Trong dịp này, đồng bào Phật tử các giới quy tụ về chùa tụng kinh cầu nguyện cho ông bà cha mẹ đã quá vãng. Vào buổi chiều, các chùa lớn thường tổ chức trai đàn chẩn tế cô hồn. Khi nghiên cứu về lịch sử Phật giáo Đông Á, các học giả Tây phương nhận định rằng lễ hội Vu Lan và trai đàn chẩn tế cô hồn là nền tảng sinh tồn và phát triển của Phật giáo. Lễ trai đàn chẩn tế cô hồn hàng năm được tổ chức rộng rãi vào dịp lễ Vu lan, tuy vậy, với sự quan trọng của việc chẩn tế cô hồn, khoa nghi này còn được tổ chức vào các dịp Đại giới đàn truyền giới cho Tăng Ni và Phật tử, hoặc khi một người nào đó quá vãng và thân nhân trong gia đình có phương tiện thỉnh chư Tăng làm lễ trai đàn cúng thí thực để cầu nguyện và hồi hướng phúc đức cho thân nhân vừa qua đời. Thỉnh thoảng các nhà hảo tâm, các hội đoàn hoặc chính quyền địa phương cũng bảo trợ tổ chức đại lễ chẩn tế cô hồn cho các chiến sĩ trận vong, đồng bào tử nạn, các oan hồn tử sĩ, các người thương vong, v.v…

17. Trong lúc nghiên cứu cho bài viết này, tôi đã tham khảo hai khoa cúng: Thích Thị Bảo Đỉnh Hành Trí Bỉ Chỉ Toàn Chương, và Bảo Đỉnh Hành Tri Bí Chỉ Toàn Chương. Hai tập nghi lễ quan trọng này có tên tác giả là Huyền Quang, vị tổ thứ ba của dòng thiền Trúc Lâm. Hai bản kinh này in lại vào thời Nguyễn tại chùa Viên Minh, xã Cổ Liêu, huyện Thường Tín, tỉnh Hà Tây. Thư viện Hán Nôm có hai bản nghi thức này đánh số: AC 225 và VHv 1096. Cho tới nay chưa có học giả nào nghiên cứu về nội dung của hai bản khoa cúng này.

18. Các bản kinh nhật tụng ở các chùa Việt Nam đều có in nghi thức Mông Sơn Thí Thực. Nghi thức này hoặc là nguyên chữ Hán, hoặc phiên âm Hán Việt. Gần đây Nghi Thức Thí Thực đã được HT. Thích Nhất Hạnh địch ra tiếng Việt và in trong tập Nghi Thức Tụng Niệm Đại Toàn, bằng Quốc ngữ, Lá Bối xuất bản, Walnut Creek, California, 1999, trang 91 – 95. Học giả D.T. Suzuki dịch bài kinh này sang Anh ngữ và xuất bản trong tập sách, Manual of Zen Buddhism [Thiền Môn Khóa Tụng]. Grove Press, New York, 1960.

tuong-thanh-tang-chua-Tay-Phuong

Ảnh Đẹp
Video - Clips
Lịch